[Cùng đọc] Số 3 - Lạm phát
- Sep 9, 2021
- 11 min read
"Người Mỹ ngày càng khoẻ hơn. 50 năm trước, cần 2 thanh niên để bê được gói hàng trị giá 100 Đô-la. Bây giờ thì một đứa trẻ cũng làm được điều đó".
Warren Buffett từng nói ông không đọc các dự báo kinh tế khi đầu tư. Điều này thường được mọi người hiểu rằng, kinh tế vĩ mô không đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định. Đây là một sai lầm lớn.
Kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng, và hoạt động kinh tế vĩ mô luôn ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả đầu tư. Tuy nhiên, nó không có nghĩa là chỉ dựa vào kết quả kinh tế vĩ mô, và nó cũng không có nghĩa là một cá nhân có thể dự đoán chính xác được các kết quả này.
Không ai đảm bảo được các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ đi đến những kết quả cụ thể nào - dù có là FED đi chăng nữa (FED đã thú nhận điều này trong cuộc họp năm ngoái - rằng họ không thể đảm bảo 100% các chính sách sẽ tạo ra tác động đúng như dự đoán)
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau bàn về lạm phát - thứ được nói trong báo chí và tin tức suốt 3 quý vừa qua. Nó là gì? đóng vai trò thế nào trong chính sách đầu tư? và đóng vai trò thế nào trong chiến lược phát triển quốc gia?
Như mình đã thể hiện rõ quan điểm trong bài trước - cá nhân mình đặc biệt quan tâm đến chiến lược phát triển quốc gia. Nếu quốc gia thắng, thì mình - một cá nhân - chắc chắn sẽ được hưởng phần nào chiến thắng đó.
Đây là một bài viết khá loằng ngoằng, nhưng mình chỉ muốn nhắc lại lịch sử, để nhấn mạnh rằng điều gì đã từng xảy ra rất có thể sẽ lại xảy ra.
Và với ai không muốn đọc những lịch sử, bạn có thể next thẳng xuống #4 để đọc về những suy nghĩ về lạm phát trong tương lai.
#1. Lạm phát Việt Nam 2004 - 2011

(Biểu đồ lạm phát 3 nước Việt Nam - Thái Lan và Nhật Bản)
Với những người sinh năm 1998, thì đến năm 2016 mới bắt đầu vào Đại Học và bắt đầu được học kinh tế Vĩ Mô. Do đó, hầu hết (hoặc mình nghĩ thế), đều không cảm nhận được không khí của những năm lạm phát cao kỷ lục - đặc biệt giai đoạn 2004 - 2011.
Có câu nói "lạm phát là lực hút của trái đất trong ngành kinh tế". Nếu bất kỳ sự tăng trưởng nào không vượt qua được tỷ lệ lạm phát. Thì tăng trưởng thực coi như âm.
Hãy quay về năm 2011
Giai đoạn 2006 - 2010, CPI tăng bình quân 12,6% một năm. Như vậy, giá trị thật của tăng trưởng với đời sống người dân không nhiều, thậm chí âm.
Chỉ trong vòng vài tháng qua, giá cả nhiều mặt hàng tiêu dùng cơ bản như thịt, trứng, rau - quả… đã tăng gấp đôi, gây ảnh hương lớn đến đời sống người dân, đặc biệt là nông dân, người có thu nhập thấp, công nhân lao động trong các doanh nghiệp FDI
Theo phân tích, tình trạng này kéo dài không chỉ tác động đến kinh tế mà còn gây không ít ảnh hưởng về mặt xã hội. “Trong 6 tháng đầu năm 2011, cả nước đã xảy ra hàng trăm cuộc đình công, mà 83% các vụ việc lại xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chia sẻ ý kiến cho rằng việc thắt chặt tiền tệ là cần thiết trong điều kiện lạm phát tăng cao nhưng đại biểu Đào Tấn Lộc (Phú Yên) và Huỳnh Thành (Gia Lai) đều cho rằng đây là chỉ là giải pháp tình thế và có khả năng gây ra hiện tượng đình đốn trong sản xuất nếu Chính phủ không có giải pháp hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp cũng như hộ nông dân tăng cường khả năng tiếp cận vốn.
Hiện có đến hai phần ba số doanh nghiệp vừa và nhỏ khó hoặc không tiếp cận được vốn ngân hàng. Trong khi đó, lãi vay hiện lên tới 17 - 18%, thậm chí có nơi là 20 - 22% khiến doanh nghiệp không thể kinh doanh có lãi. Khó khăn tương tự cũng diễn ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - nông thôn.
Chỉ số giá tiêu dùng nhất thiết phải được đưa về mức dưới 10%. “Nếu duy trì lạm phát 2 con số trong một vài năm nữa, Việt Nam sẽ đánh mất gần hết những thành quả về kinh tế - xã hội”, đại biểu Trần Du Lịch (TP HCM) cảnh báo.
Từ thực tế, ông Tín cho biết tình trạng lạm phát, đi kèm với lãi suất cao đang khiến nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình trạng hết sức khó khăn. Đại biểu cho rằng nếu lạm phát năm 2012 không được đưa về dưới 10%, lãi suất không hạ xuống khoảng 15% thì phần lớn số doanh nghiệp đang “sống dở, chết dở” nói trên sẽ không còn tồn tại.
“Tổng mức bán lẻ hàng hóa - dịch vụ vẫn tăng 22,8% nhưng đó là chưa loại trừ yếu tố giá. Nếu loại trừ yếu tố này thì không biết con số sẽ còn được bao nhiêu”
#2. Nguyên nhân lạm phát
Lý thuyết tổng quát
Milton Friedman, nhà kinh tế học nhận giải thưởng Nobel kinh tế 1976, cho rằng lạm phát chỉ là biểu hiện của tăng lên quá mức của cung tiền. Theo thuyết số lượng tiền tệ thì giữa các tham số cung tiền và giá cả trong nền kinh tế có mối quan hệ và được thể hiện qua công thức:
M x V = P x Q
<=> %M + %V = %P + %Q
<=> %P = %M - %Y - %Q
Trong đó:
M: số lượng tiền tệ
V: số nhân tiền
P: giá
Q: tổng khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông
Và M = C + D
Trong đó:
C = tiền mặt ngoài ngân hàng
D = tiền gửi không kỳ hạn
Như vậy, lạm phát (% thay đổi P) phụ thuộc rất lớn vào thay đổi cung tiền (% M). Khi tốc độ tăng cung tiền quá cao mà các yếu tố ngược lại thay đổi không tương ứng như V và Y sẽ gây nên lạm phát cao.
Công thức (2) cho thấy
Lạm phát có nguyên nhân từ cung tiền, nhưng cung tiền chỉ lại là hệ quả của sự tương tác giữa tính có chủ đích từ phía chính phủ và nhu cầu tự thân của nền kinh tế. Ngân hàng Trung ương bằng chính sách tiền tệ tiến hành chủ động mở rộng hay thu hẹp cung tiền qua các công cụ: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cho vay chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở...
Ngược lại, nhu cầu số lượng tiền lưu thông lại chịu tác động khách quan của nền kinh tế bao gồm chi tiêu chính phủ trong chính sách tài khóa, của doanh nghiệp với mở rộng hoạt động kinh doanh và cuối cùng là tác động của dòng vốn nước ngoài chảy vào với sự chuyển đổi từ ngoại tệ sang nội tệ.
Nói một cách ngắn gọn, trở về VN, lạm phát ở Việt Nam là do yếu tố tiền tệ do chi tiêu công quá mức và phân bổ vốn thiên lệch ở khu vực thị trường (doanh nghiệp). Điều này có thể giải thích cụ thể như sau:
Chúng ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế. Nguyên nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nội tại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phát chính là yếu tố tiền tệ.
Điều này được hiểu một cách đơn giản qua ví dụ năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đơn vị hàng hóa và 100 đồng tiền thì giá 1 hàng hóa là 1 tiền. Năm nay, do tăng trưởng kinh tế 10% nên nền kinh tế có 110 đơn vị hàng hóa. Do những yếu tố khác nhau (chủ yếu vẫn là việc gia tăng cung tiền của ngân hàng trung ương) mà nền kinh tế có đến 121 đơn vị tiền. Kết quả là giá 1 hàng hóa bằng 1,1 tiền hay lạm phát là 10%.
Ngoài yếu tố tiền tệ, trong ngắn hạn, lạm phát cũng có thể do cầu kéo hay chi phí đẩy. Một ví dụ đơn giản nhất của cầu kéo là những gói kích thích kinh tế của chính phủ. Với một kế hoạch chi tiêu lớn được đưa ra sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng dẫn đến mức giá gia tăng trong ngắn hạn.
Sự nóng lên bất thường của các thị trường tài sản (chứng khoán , bất động sản...) cũng có thể gây ra lạm phát cầu kéo do nhiều người trở nên giàu có bất thường sẽ gia tăng mức chi tiêu rất lớn của mình dẫn đến tăng tổng cầu của cả nền kinh tế tăng.
Đối với lạm phát chi phí đẩy, ví dụ dễ nhìn thấy nhất là do một cú sốc cung nào đó mà làm cho nguồn cung khan hiếm hay giá nguyên liệu đầu vào đột ngột tăng lên làm cho mức giá chung của cả nền kinh tế tăng lên tưc thì. Ví dụ hay được nhắc tới trogn tình huống này là cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên thế giới ở thập niên 1970.
Tuy nhiên, nếu có chính sách tiền tệ hợp lý sao cho mức tăng cung tiền trong nền kinh tế phù hợp với mức tăng của hàng hóa thì tác động của lạm phát do cầu kéo hay chi phí đẩy sẽ không kéo dài.
CPI không phải lạm phát
Hiện tại, nhiều người vẫn coi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là lạm phát. Đúng ra, chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối (tính theo phần trăm), phản ánh biến động về giá cả chung qua thời gian của một số lượng (hay còn gọi là "rổ") hàng hóa, dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng phục vụ đời sống bình thường của người dân.
Như vậy, CPI có thể tăng, hoặc giảm so với một thời kỳ gốc nào đó. Trong khi đó lạm phát là biểu hiện của việc chỉ số giá tiêu dùng tăng liên tục trong một thời gian dài và nó phản ánh sự mất cân đối, trong đó chủ yếu là mất cân đối giữa tiền và hàng.
#3. Chính sách thắt chặt tiền tệ
Về nguyên tắc, khi tiền tăng nhiều hơn mức tăng của hàng hóa dẫn đến lạm phát thì cần phải thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền trong nền kinh tế là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc thắt chặt tiền tệ cần phải đảm bảo rằng những đối tượng tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế phải bị ít ảnh hưởng nhất để đảm bảo mức gia tăng cân đối giữa tiền và hàng. Nhìn dưới khía cạnh này và dựa vào phân tích trên sẽ thấy việc thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình trạng trở nên trầm trọng hơn vì:
Thứ nhất, ở khu vực thị trường hay khu vực kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ - cỗ máy tăng trưởng của Việt Nam - có thể là đối tượng chịu tác động trước tiên vì khi nguồn vốn bị giới hạn thì người bên ngoài (các doanh nghiệp vừa và nhỏ) sẽ là đối tượng bị cắt nguồn vốn trước tiên. Như vậy, ngay ở khu vực trường, mất cân đối tiền - hàng có thể trở nên trầm trọng hơn.
Thứ hai, thắt chặt tiền tệ chưa hẳn sẽ giảm được lượng tiền trong nền kinh tế. Nói chung thắt chặt tiền tệ là giảm lượng cung tiền ở khu vực thị trường với giả định là việc chi tiêu công phải tuân thủ theo những kỷ luật nghiêm ngặt nên lượng tiền trong nền kinh tế sẽ giảm. Tuy nhiên, nếu mục tiêu đầu tư vẫn chiếm khoảng 40% GDP hay mức chi tiêu của toàn xã hội không thay đổi thì việc thắt chặt tiền tệ ở khu vực thị trường có thể sẽ đẩy tiền sang khu vực chi tiêu ngân sách vì trên thực tế NHNN không thể nói không với yêu cầu từ phía Chính phủ.
Lúc này, một lần nữa, mất cân đối tiền - hàng lại trở nên nghiêm trọng hơn.
#4. Suy nghĩ về lạm phát trong tương lai
Trong thời kỳ đại dịch, chính phủ đang tăng cường thúc đầy chi tiêu và đầu tư công. Điều này kỳ vọng (1) hồi phục nền kinh tế, (2) sự tăng giá 'skyrocket' của tài sản và (3) lo sợ về lạm phát tăng cao.
Những chính sách này, theo truyền thống, sẽ dẫn đến những hiệu quả sau
1) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2) Tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp
3) Tác động đến cung-cầu lao động giúp tăng lương
4) Dòng tiền chảy vào trong khi hàng hoá thì giới hạn
5) Tăng tốc độ lạm phát
6) Chính sách thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát => tăng lãi suất.
Những tác động đã được biểu hiện
1) Giá cả hàng hoá nhập khẩu đã tăng
2) Giá nhà đã tăng
3) Giá nguyên phụ liệu đã tăng => mang lại lợi nhuận nhưng cũng làm giảm biên lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất
Những suy nghĩ cuối cùng
Có quá nhiều những thiếu hụt và đứt gãy trong chuỗi cung ứng khiến cho hàng hoá đầu vào đầu ra đều bị ảnh hưởng - điều này dẫn đến giá các mặt hàng đã tăng. Và sự tăng giá này - có thể coi như một hệ quả tất yếu của việc hồi phục kinh tế - và hồi phục chuỗi cung ứng. Chúng ta không thể kỳ vọng rằng, các thành phần của nền kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi ngay lập tức.
Điều cần nhớ là, nền kinh tế hoạt động không chỉ dựa trên những con số. Lạm phát gia tăng còn do tâm lý "nó sẽ tăng giá" của các thành phần tham gia. Điều này có nghĩa, lạm phát không chỉ là hậu quả của chênh lệch cung cầu, mà còn là hậu quả của những kỳ vọng. Trong thời gian qua, tâm lý này tạo ra cái mà mình tạm gọi là "lạm phát 2 lần"
Báo cáo tháng 4,2020 cho thấy do ở nhà, nhu cầu sắm sửa căn hộ đã tăng đáng kể ở Mỹ và EU. Điều này dẫn đến một vài các công ty cung ứng gia tăng nhập khẩu các mặt hang gỗ và gỗ nguyên liệu. Logic mà nói, không thể nào có chuyện nhu cầu sửa sang nhà cửa có thể cần nhiều gỗ gấp 5 lần hoạt động xây nhà mới - thứ vốn đã suy giảm kể từ khi đại dịch diễn ra. Tuy nhiên, sự điên rồ nằm ở chỗ. Do đứt gãy chuỗi cung ứng và tâm lý không thể nào có đủ gỗ cho các căn hộ sửa sang - đã khiến giá gỗ "skyrocket" lên 540% so với đầu năm. Ấy vậy mà, lúc này, giá gỗ đã rơi 60% kể từ mức đỉnh 2 tháng trước. Mọi sự kỳ vọng điên rồ đã qua, và mọi thứ trở về đúng thời điểm hơp lý của nó. (dù ở đây, mình đã lếu láo cố tình bỏ qua vấn đề tích trữ hàng tồn kho và cost-push trong giá gỗ - tuy nhiên, bài này hiện tại đang trở nên quá dài rồi - cười).
Trong case trên, dù giá gỗ tăng là hợp lý - nhưng tăng gấp 5 lần sẽ là bất hợp lý. Định giá công ty gỗ cao lên là hợp lý - nhưng cao hơn gấp 3-4 lần sẽ thành bất hợp lý. Ở đây, một lần nữa, chúng ta chứng minh logic sơ sài thường là nguyên nhân tạo ra các thảm hoạ.

(Biểu đồ: lượng công trình xây dựng Mỹ 2021 - quan trọng là lượng completion luỹ kế chỉ ngang các năm trước)
Như quyển "Winning the Loser's game" - thị trường cho, và thị trường lấy đi.
Có một số suy nghĩ cho rằng "lạm phát tăng sẽ làm tăng lãi suất và qua đó làm giảm giá trị tài sản" - dù điều này đúng trong các công thức, nhưng lại khó để biết nó có thực sự đúng ở ngoài thực tiễn hay không.
Tuy nhiên, các nhà đầu tư chuyên nghiệp đã rất để ý đến xu hướng này - và họ hoàn toàn có thể thay đổi chính sách định giá tài sản - và thoái vốn ra khỏi các tài sản đã bị định giá quá mức - thực tế, điều này đã dẫn tới sự sụp đổ của thị trường Mỹ năm 1972-1982.
Cuối cùng, không có câu trả lời cho vấn đề lạm phát - mặc dù có nhiều những giả thiết và suy nghĩ miên man.
Như người ta vẫn nói "giả thiết trên trời, cuộc đời mặt đất" - khó ai mà biết tương lai sẽ như thế nào.
"Keep your eyes open" - như cách mà Warren Buffett nói - đặc biệt trong thời gian như hiện nay, có lẽ là điều cần thiết nhất.
Xin cảm ơn các bạn rất nhiều...
![[Đầu tư - số 7] Bất động sản](https://static.wixstatic.com/media/6dbaf1_553b34fc916c49328f8b15bd5f9367fd~mv2.png/v1/fill/w_980,h_735,al_c,q_90,usm_0.66_1.00_0.01,enc_avif,quality_auto/6dbaf1_553b34fc916c49328f8b15bd5f9367fd~mv2.png)
![[Đầu tư - số 6] Sự vô thường của nền kinh tế](https://static.wixstatic.com/media/6dbaf1_4d5d3412b5a9496ea532cf772634ac7d~mv2.png/v1/fill/w_975,h_708,al_c,q_90,enc_avif,quality_auto/6dbaf1_4d5d3412b5a9496ea532cf772634ac7d~mv2.png)
![[Đầu tư - số 5] Trò chơi định giá (part 1)](https://static.wixstatic.com/media/6dbaf1_cdf7ef96f3df492ea4dc9c810f3cb1cc~mv2.png/v1/fill/w_980,h_505,al_c,q_90,usm_0.66_1.00_0.01,enc_avif,quality_auto/6dbaf1_cdf7ef96f3df492ea4dc9c810f3cb1cc~mv2.png)
Cho hỏi bạn ăn gì mà giỏi thế :D